Tuesday, June 21, 2016

Một số thuật ngữ tiếng Anh thường bị dịch ẩu

 Trong lúc đọc báo, thấy mấy chữ này dịch sai cứ tức anh ách. Nay viết ra để giải toả tâm lý!

Secretary of States: Có người dịch sai thành Thư ký Liên bang. Với bối cảnh nước Mỹ, vị trí này là Ngoại trưởng. Không biết tại sao ngày xưa lại dịch ra như thế, thay cho Bộ trưởng Ngoại giao. Trong khi chức vụ Secretary of Defense lại vẫn dịch là Bộ trưởng Quốc phòng, chứ không dịch là Quốc trưởng hay tệ hơn, trưởng Phòng!

Ví dụ một bài báo dịch sai, theo đó bà Hillary Clinton giữ chức vụ Thư ký Liên bang

http://vntinnhanh.vn/my/vi-sao-pho-tong-thong-my-khong-tranh-cu-tong-thong-63904

Collateral Damage: trong bối cảnh hoạt động quân sự, chữ này để chỉ các thiệt hại không mong muốn nhưng không thể tránh khỏi, khi tiến hành đợt tấn công hoặc chiến dịch. Có thể dịch thành Tổn thất ngoài dự kiến, hoặc Thiệt hại kèm theo. Trong kinh tế tài chính, nó ám chỉ các động thái điều hành kinh tế (ví dụ của chính phủ hoặc ngân hàng trung ương) có thể gây ra tác động xấu đến tầng lớp dân nghèo, cho dù mục đích chính của động thái đó hoàn toàn khác. Rất thường bị dịch sai thành Thiệt hại tài sản thế chấp.

Ví dụ bài báo dịch sai:
http://nhipcaudautu.vn/tai-chinh/thi-truong-quoc-te/be-boi-lai-suat-libor-co-tac-dong-the-nao-toi-the-gioi-3185222/#axzz4Be8zBvzO

US Army: dịch là Lục quân Hoa kỳ, không phải quân đội Mỹ. Đây là một trong ba quân chủng chính, gồm Lục quân, Hải quân và Không quân Hoa kỳ. Ngoài ra còn có Tuần duyên, Thủy quân lục chiến và Vệ binh quốc gia (khi được điều động).

General Purpose: nghĩa chính xác nhất là "đa dụng" hoặc "đa năng". Chữ này rất hay bị dịch sai thành "mục đích chung", nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Nhiều thuật ngữ dịch lên nghe rất ngô nghê, như là bộ nhớ mục đích chung, cổng giao tiếp mục đích chung, cảm biến mục đích chung v.v.

Rule of engagement (RoE): cái này bị dịch bá đạo nhất, nào là "luật chiến tranh", "quy định sử dụng lực lượng quân sự" v.v. nhưng thực ra cần phải dịch thành "quy tắc tham chiến". Đây là các giới hạn về tình huống, điều kiện, cấp độ sử dụng vũ lực cho một nhiệm vụ, tùy vào các luật lệ áp dụng, hiện trạng thực địa và cách thức tiến hành nhiệm vụ đó. Ví dụ RoE của một nhiệm vụ chỉ cho phép giám sát và bắt cóc đối tượng tình nghi, không được khai hỏa. Nhưng khi đã bắt cóc được đối tượng, thì được phép khai hỏa để rút lui. Hoặc RoE của một nhiệm vụ khác chỉ cho phép sử dụng hỏa lực cá nhân, không được phép tấn công bằng hỏa lực sát thương diện rộng (pháo kích, đặt mìn v.v.)

Cũng có người dịch RoE thành phương án tác chiến, song không sát thực lắm. Nó khác với phương án tác chiến ở chỗ không quy định cụ thể đánh chiếm mục tiêu như thế nào, hay chuẩn bị hỏa lực ra sao, hay tấn công ở đâu và rút lui ở đâu, hay chặn viện như thế nào.

Chữ cuối cùng là cách mà tác giả bài viết chọn để dịch cụm từ "Great disorder under heaven". Năm 2010, tờ The Economist của Anh trong ấn bản ngày 16/12 đã đăng một bài báo có tên như vậy, về các thảm họa ngoại giao của Trung quốc xuất phát từ sự không nhất quán trong cách thức lãnh đạo nội bộ. Đài Phát thanh quốc tế Pháp (Radio France Internationale RFI – mục tiếng Việt) đã dịch tựa bài báo trên thành "Rối bời nơi thiên đình" – một cách dịch sai hiển nhiên, vì Under Heaven không thể gọi là Thiên đình được.

Sau khi đọc nội dung bài báo, tôi chọn dịch thành "Thiên hạ đại loạn". Tôi tin mình đã phản ánh trung thực quan điểm của tác giả.

Friday, June 3, 2016

Vì sao SpaceX đe dọa và thúc đẩy ngành hàng không vũ trụ?

Giữa năm 2015, Tổng thống Nga Vladimir Putin ký sắc lệnh giải tán và tái cấu trúc toàn diện Cơ quan Hàng không Vũ trụ RosCosmos – một tổ chức tương tự như NASA của Mỹ. Ông thừa nhận rằng công ty tư nhân SpaceX chính là một trong những lý do khiến người Nga phải ra tay đến nơi đến chốn. Vậy SpaceX là ai, từ đâu ra, và bằng cách nào có thể phủ bóng đen lên một trong những cơ quan hàng không vũ trụ hùng mạnh và lâu đời nhất thế giới như thế?



Loài người vẫn hằng mơ ước chinh phục vũ trụ. Xưa thì có Từ trái đất đến mặt trăng (Jules Verne – 1865), cho tới siêu phẩm mới đây của Hollywood – bộ phim Interstellar (2014), người ta luôn muốn đặt chân đến những vùng đất xa xôi, mở mang bờ cõi cho Trái đất, biến ngôi sao xa lạ thành thuộc địa của con người.

Song, những mơ ước này bị dập tắt bởi một câu hỏi tầm thường nhất: mất bao nhiêu tiền để đi tới đó?

Ngoại trừ các chương trình hàng không vũ trụ tầm cỡ quốc gia và đa quốc gia, chuyên xài tiền thuế của dân nên không phải nghĩ, thì câu hỏi trên đủ sức làm nản lòng tất cả những người tỉnh táo và có lý trí trên Trái đất. Tất cả, trừ một người – Elon Musk.

Trở thành tỷ phú từ năm 30 tuổi, Elon lập ra công ty SpaceX để thực hiện tham vọng đưa con người đặt chân đến sao Hỏa, xây dựng một căn cứ hậu cần để cung cấp thực phẩm và từ đó phủ xanh miền đất này bằng các giống cây mang từ Trái đất. Sau khi tiến hành những tính toán và nghiên cứu cụ thể, Elon nhận thấy điểm mấu chốt là chi phí vận chuyển hàng hóa và người lên sao Hỏa hiện nay quá đắt đỏ, khiến mọi tham vọng không thể trở thành hiện thực.

Vậy thì phải cắt giảm chi phí, song cắt bằng cách nào? Quay trở lại năm 1969 khi tàu Apollo 11 đưa ba phi hành gia lên Mặt trăng. Trong số đó chỉ 2 người thực sự đáp xuống mặt trăng là Neil Armstrong và Buzz Aldrin, Michael Collins ở lại module điều khiển – lúc đó bay trên quỹ đạo Mặt trăng. Cả 3 người đã trở về Trái đất an toàn.

Để phóng tàu Apollo 11, người ta dùng tên lửa đấy 3 tầng Saturn V, tên lửa lớn nhất từng được chế tạo cho đến nay (2016). Tầng thứ nhất hoạt động trong ba phút đầu tiên, tách khỏi tên lửa và đâm xuống biển. Tầng thứ hai hoạt động trong sáu phút sau đó, bị vứt bỏ và bốc cháy khi quay lại khí quyển Trái Đất. Tầng thứ ba đốt tiếp trong chín phút, sau khi đẩy Apollo sang quỹ đạo chuyển tiếp Mặt trăng, nó rơi vào quỹ đạo mặt trời và trở thành một hành tinh nhân tạo, lang thang đâu đó giữa sao Kim và Trái đất. Tên lửa Saturn, tốn kém 6 tỷ dollars theo thời giá năm 1969, tương đương hơn 35 tỷ hiện nay, là món chi phí chỉ sử dụng một lần.

Trên thực tế, nhiên liệu là thứ duy nhất buộc phải tiêu hao toàn toàn, song vì những nguyên nhân nêu trên, người ta cũng đã vứt bỏ toàn bộ 140 tấn các cấu kiện kim loại khác trên tên lửa đẩy. Quả tình, không phải cả 140 tấn đều bốc cháy, lang thang trong vũ trụ hoặc rơi xuống biển, vì module đổ bộ Trái đất còn nặng 5 tấn, nhưng tiếc thay, không thể dùng nó cho chu trình phóng kế tiếp.

Ý tưởng ở đây là tái sử dụng ở mức nhiều nhất 140 tấn thiết bị này. Và SpaceX hoàn toàn không phải người tiên phong. Các tàu con thoi đã có thể, sau khi hoàn thành công việc trong quỹ đạo, quay trở về Trái đất bằng cách hạ cánh trên đường băng. Hai tên lửa đẩy dùng nhiên liệu rắn cũng được vớt lại từ biển, nơi người ta cho chúng hạ xuống bằng dù. Song việc tái chế chúng – gồm cả tàu con thoi và tên lửa đấy – vẫn còn đắt đỏ và tốn kém.

Nhận thấy chi phí nhiên liệu chỉ chiếm khoảng 0.5% tổng chi phí, các chuyên gia của SpaceX đã tìm cách thu hồi và sử dụng lại phần lớn các cấu kiện của tên lửa đấy, bằng cách đó cắt giảm phí tổn, cũng như rút ngắn thời gian chuẩn bị cho lần phóng tiếp.

Khoa học về tên lửa

Để tính được năng lượng cần thiết đưa vật thể lên quỹ đạo, người ta cần biết chính xác đó là quỹ đạo nào. Ví dụ, trạm vũ trụ ISS bay ở độ cao 400km, được gọi là quỹ đạo gần Trái đất. Các vệ tinh địa tĩnh cách xa hơn nhiều, lên tới 36 ngàn km.

Năng lượng tiêu thụ cũng phụ thuộc vào khối lượng của vật cần đưa lên, và để cho đơn giản, người ta tính trên mỗi kg bay vào một quỹ đạo cho trước. Cụ thể, một kg đưa lên đến trạm ISS sẽ tốn khoảng 34 mega-joules (MJ), bao gồm cả động năng chuyển động (7.7km/s) và thế năng của vật so với mặt đất.

Ngoài khối lượng của module quỹ đạo, người ta còn phải tính đến khối lượng của chính tên lửa và thùng nhiên liệu mà nó mang theo. Các chuyên gia cho biết, mỗi kg tải trọng sẽ cần ít nhất 4.5kg nhiên liệu lỏng hoặc hơn 20kg nhiên liệu rắn để đạt đến quỹ đạo này. Đến giờ các bạn đã hiểu tại sao người ta ưa dùng nhiên liệu lỏng – khối lượng tên lửa đẩy nhỏ hơn nhiều so với dùng động cơ nhiên liệu rắn.

Bí mật của SpaceX

Các tên lửa đẩy của SpaceX vận hành ra sao? Chiếc mới nhất đang được sử dụng là tên lửa loại hai tầng Falcon 9. Mỗi tầng đều lắp các động cơ nhiên liệu lỏng giống nhau – dầu kerosene và oxy lỏng giống như động cơ của Saturn V (một bằng chứng cho thấy hóa học không hề thay đổi trong suốt 50 năm qua!). Tầng thứ nhất mang 9 động cơ – vì thế có tên Falcon 9 – cũng là tầng nặng nhất và tốn kém nhất của toàn bộ hệ thống phóng. Bằng mọi cách, người ta phải thu hồi tầng này trên cạn. Nếu để rơi xuống biển, cú va đập và sự ăn mòn hóa học của nước biển sẽ làm nó trở thành vô dụng.

Song việc đưa tầng tên lửa quay về đất liền sẽ làm hạn chế các lựa chọn khi phóng. Như các bạn biết, biển và đại dương chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất, và trong 29% đất liền còn lại, các khu vực núi cao, rừng rậm, đầm lầy, khu dân cư … thảy đều không phù hợp cho việc thu hồi. Vì thế, người ta quyết định chuẩn bị phương án cho tầng tên lửa đẩy hạ xuống một sà lan tự hành (không người lái) thả nổi trên mặt biển.

Sau khi động cơ ngừng hoạt động và tầng một tách ra, nó sẽ quay đầu và hướng về địa điểm hạ cánh bằng cách sử dụng cánh lái trên thân. Các máy tính và bộ điều khiển động cơ sẽ hạ dần tốc độ bằng cách phụt ngược. Vào phút cuối cùng, bốn càng đáp xòe ra, và tầng tên lửa tiếp đất ở tốc độ khoảng 6m/s – cỡ hơn một nửa tốc độ chạy 100m của kỷ lục gia Usain Bolt. Quá trình này hoàn toàn không có sự can thiệp của con người, được hoàn tất bởi máy tính và hệ thống đạo hàng quán tính.

Hạ cánh trên sà lan luôn kèm theo nhiều rủi ro. Càng đáp phải có thể khóa cứng vào sàn – vì mọi rung lắc do sóng biển có thể dễ dàng hạ gục một khối trụ cao bằng tòa nhà 20 tầng, và quả thật đó là điều đã từng xảy ra với một trong những lần hạ cánh trước đây. Nhưng nó cũng tuyệt đối an toàn đối với con người, vì cả sà lan và tầng đẩy đều không cần người điều khiển. Điều này cực kỳ quan trọng với cú đáp trên sao Hỏa, khi mà mọi tín hiệu vô tuyến có thể mất đến 40 phút để nhận được hồi đáp từ Trái đất.

Tài chính

Với tên lửa đẩy Falcon 9, SpaceX đạt tiến bộ nhảy vọt về chi phí thấp. Họ tốn 4.500 USD đưa một  kg hàng hóa lên quỹ đạo tầm thấp. Chiếc Falcon Heavy, theo dự kiến, sẽ hạ chi phí xuống còn dưới 1.800 USD/kg. Mức giá này đủ để đánh bại toàn bộ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, thậm chí tên lửa Trường Chinh của Trung quốc cũng không thể rẻ đến thế.

Họ làm được điều đó bằng cách đơn giản hóa tên lửa đẩy. Ví dụ, chiếc Falcon 9 có 2 tầng đẩy, sử dụng cùng một loại động cơ, một loại nhiên liêu, cùng một đường kính thân, cùng chế tạo bằng vật liệu hợp kim nhôm-liti. Tên lửa đẩy Atlas V, trái lại, sử dụng 3 loại động cơ tên lửa khác nhau cho từng giai đoạn phóng. Hoặc động cơ RD-180 của Nga nổ phóng ban đầu bằng nhiên liệu rắn, sau đó chuyển sang dầu và Oxy lỏng, cuối cùng là Hydro và Oxy lỏng. Dùng tới ba loại động cơ cho một quả tên lửa có thể mang lại hiệu năng cao, song không hề tiết kiệm. Thoạt tiên là chi phí xây dựng nhà máy chế tạo sẽ đội lên gấp 3, sau đó là toàn bộ chi phí vận hành.

Mặt khác, việc tái sử dụng tầng tên lửa vẫn còn nhiều điểm thiếu thuyết phục. Một bằng chứng là SpaceX chưa hề tái sử dụng tầng đẩy từ vụ phóng trước. Người ta cũng chưa từng thấy báo cáo đánh giá mức độ hư hại của tấm cản nhiệt sau khi xuyên qua tầng khí quyển. Phụ thuộc vào đích tới của module quỹ đạo, tốc độ quay lại của tầng đẩy có thể lên tới hơn 8,000km/h – với các vụ phóng lên quỹ đạo địa tĩnh. Việc tấm cản nhiệt bị hư hại có thể là thảm họa cho lần phóng kế tiếp – nhớ rằng tàu con thoi Columbia và toàn bộ phi hành đoàn đã nổ tung trên đường quay lại Trái đất, vì vài viên gốm cách nhiệt đã bung khỏi cánh trong quá trình phóng lên.

Người Nga đang nhìn nhận SpaceX như một đối thủ thực sự trong thị trường hàng không vũ trụ dân dụng. Họ từng ra giá 8 triệu USD cho một quả tên lửa đạn đạo Dnepr-1 (đã tái chế và loại bỏ đầu đạn) khi Elon Musk hỏi mua vào năm 2002, song thương vụ bất thành vì bên mua chỉ trả một nửa mức giá đó. Hơn 10 năm sau, SpaceX đe dọa những hợp đồng phóng vệ tinh béo bở mà Nga đang có trong tay, bằng một hợp đồng tương tự ký với NASA – tuy rằng mới chỉ dừng ở mức vận tải hàng hóa. Trong bối cảnh Nga đang suy yếu về kinh tế, không loại trừ khả năng SpaceX bỏ ra những khoản tiền lớn để săn nhân sự trong lĩnh vực này. Nhớ rằng Nga đang giữ kỷ lục về tên lửa đẩy lớn nhất hiện nay đang hoạt động là Angara A5, đưa được 24.5 tấn lên quỹ đạo tầng thấp. Vị trí thứ hai thuộc về SpaceX Heavy, 22.8 tấn, và có thể trật tự này không tồn lại lâu.

Kết luận

SpaceX đã thiết lập một chuẩn mực mới cho công nghệ hàng không vũ trụ. Sức đẩy lớn, chi phí thấp, công nghệ thu hồi và tái sử dụng, khả năng cất hạ cánh thẳng đứng, thảy đều là những bước tiến vượt bậc. Tuy còn nhiều việc phải làm, Elon Musk đã chứng tỏ một công ty tư nhân hoàn toàn có thể cạnh tranh ngang ngửa với các tập đoàn hàng không - quân sự hùng mạnh, được hậu thuẫn bởi chính phủ.

Năm 1961, Kennedy công bố kế hoạch đưa con người lên Mặt trăng. Tám năm sau đó, lời nói của ông đã trở thành hiện thực. Năm 2016, Musk có kế hoạch đưa con người lên sao Hỏa vào năm 2025. Đằng sau Kennedy là nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới của Mỹ. Còn Musk chỉ là một anh nhà giàu mới nổi, thậm chí còn không phải là người giàu nhất thế giới. Ông ta có thực hiện được kế hoạch của mình hay không? Hay đơn thuần là một cuộc chơi tốn kém sức lực và tiền bạc? Chỉ thời gian mới có câu trả lời xác đáng.

Tham khảo từ techcentral và các trang tin công nghệ.

Friday, January 8, 2016

Choáng váng số lượng các từ chỉ lúa gạo trong tiếng Việt!



Một dân tộc thể hiện mình thông qua ngôn ngữ. Bằng cách xem xét số từ mô tả một vật thể hay hiện tượng, người ta có thể hình dung ra mức độ quan trọng hoặc quen thuộc của chúng trong cuộc sống hàng ngày.

Một nghiên cứu của tờ Washington Post đã đếm số lượng từ mô tả này theo các chủ đề khác nhau trong từng ngôn ngữ. Ví dụ như người Eskimo dùng xấp xỉ 50 từ để mô tả tuyết (snow), có từ để chỉ tuyết rơi mềm mại, và có từ khác để chỉ tuyết phủ đủ dày để đi xe trượt.

https://www.washingtonpost.com/national/health-science/there-really-are-50-eskimo-words-for-snow/2013/01/14/e0e3f4e0-59a0-11e2-beee-6e38f5215402_story.html 

Dân cư vùng Alaska dùng khoảng 70 từ để chỉ băng (ice), ví dụ có từ riêng để chỉ băng tồn tại qua nhiều năm, hay để chỉ lớp băng mỏng mới đóng trên mặt biển, hoặc chỉ loại băng xốp – có nhiều lỗ rỗng  trong phiến băng.

Tác giả bèn tò mò đếm thử xem có bao nhiêu chữ liên quan đến lúa gạo trong tiếng Việt – chính xác là tiếng Kinh. Tuy có một số từ có thể gây tranh cãi và đâu đó có những từ địa phương, số lượng các từ này cho thấy tầm quan trọng của gạo đối với dân tộc ta. Tổng cộng tối thiểu có 24 danh từ liên quan đến lúa gạo, cụ thể như sau:

Thóc
Trấu: vỏ cứng của hạt thóc, bong ra khi xay xát.
Gạo (gạo tẻ)
Gạo nếp
Gạo lứt: gạo xay chưa xát, hoặc xát sơ
Gạo hẩm: gạo biến chất, mục nát
Cám: bột từ lớp vỏ lụa của hạt gạo, bong ra khi xay xát.
Tấm: hạt gạo vỡ đôi khi xay xát.
Mẳn: mảnh vỡ của hạt gạo khi xay xát, nhỏ hơn tấm
Mộng: mầm thóc
Mạ
Lúa
Gié: phần đế và thân của bông lúa trong bẹ lá đòng (sâu cắn gié)
Đòng (đòng đòng): bông lúa khi còn trong nằm trong bẹ lá (lúa đang làm đòng)
Bông lúa
Rơm: phần ngọn cây lúa, cắt cùng với bông lúa khi thu hoạch
Rạ: phần còn lại trên ruộng sau khi thu hoạch
Cốm: gạo non, thường có màu xanh cốm hoặc hơi ngả vàng
Cơm: gạo tẻ nấu chín trong nước
Cơm nếp: cơm nấu bằng gạo nếp
Xôi: gạo nếp hấp (đồ) cách thủy
Cháo: gạo tẻ hoặc gạo nếp ninh nhừ trong nước.
Thính: gạo rang giã nhỏ
Hồ: bột gạo nấu chín sền sệt (Có bột mới gột nên hồ)

Ngoài ra có 8 danh từ chỉ các món ăn / thực phẩm dùng gạo làm nguyên liệu chính – thật ra tương đương với xôi:

Bún: đồ ăn dạng sợi làm từ bột gạo ủ
Mạch nha: làm từ gạo nếp nấu thành xôi và mầm thóc
Bánh đúc: bột gạo ngâm nước vôi trong tạo độ giòn
Rượu nếp: cơm nếp lên men rượu
Mẻ: cơm tẻ lên men chua
Bánh cốm: cốm xào thêm đường
Bánh tro: gạo nếp ngâm trong dung dịch nước tro rồi luộc chín kỹ
Chè bà cốt: cháo ngọt

Chúng ta còn có một tập hợp phong phú các động từ gắn chặt với lúa gạo, ví dụ để chỉ các phương thức chế biến gạo như xay xát giần sàng sảy rê tuốt giã, hoặc phương thức trồng trọt như gieo mạ, cấy lúa, sạ lúa, cầy, bừa, dầm, ải, … hoặc để chỉ thời gian trong năm: vụ chiêm, vụ mùa, hoặc chỉ đơn thuần là người chế biến từ thóc ra gạo: làm hàng xáo.

Kết luận: Đặc trưng lúa nước đã ăn sâu vào ngôn ngữ, thể hiện qua số lượng từ vựng phong phú, mô tả đầy đủ các giai đoạn phát triển của cây lúa và các phụ phẩm, cũng như mô tả các hoạt động liên quan. Cây lúa đã thực sự đóng vai trò cốt yếu trong việc nuôi dưỡng và hình thành dân tộc Kinh – bộ phận dân cư chủ yếu của nước Việt ngày nay.

P.S: rút tít kiểu báo mạng thời hiện đại!

Monday, December 21, 2015

Câu chuyện bánh mì

Hai chiếc bánh mì, mua ở hai nơi khác nhau. Về giá cả, chắc có cao hơn thị trường chút đỉnh, nhưng đều là thuận mua vừa bán. Vậy mà sao chiếc bánh mì mua của người Việt lại khiến mình kém vui hơn chiếc bánh mì mua của người Thái?

Khoảng đầu những năm 2000, tác giả đi công tác ở Bangkok. Nhân một buổi chiều được nghỉ, bèn rủ mấy bạn từ các quốc gia khác đi chơi. Một bạn bảo, nghe nói tour thuyền trên sông hay lắm, thế là cả bọn phóng ra bến thuyền. Sau khi khua chân múa tay một hồi, họ bán cho mỗi thằng một vé. Chẳng biết lịch trình đi những đâu, cả bọn cứ thế mặc áo phao rồi lên ngồi.

Đại để cũng đi xem các chùa chiền nọ kia, cái gì như bảo tàng hàng hải, trong có những chiến thuyền thời Xiêm La còn lại. Chẳng ấn tượng gì lắm, vì thuyền chiến Thái so với châu Âu thì khác nhau một trời một vực. Thuyền đi lòng vòng một hồi thì dừng lại ở bè cá giữa sông. Xung quanh cũng có một vài thuyền du lịch khác ghé vào. Nhìn thấy mọi người đang bẻ bánh mì ném cho ăn, đàn cá quẫy đuôi tung bọt, nom rất là nhộn nhịp.

Đang nghĩ xem bọn khách kia xin bánh mì ở đâu, thì bạn lái thuyền đã rút túi bánh mì ra chào mua. Nhớ là 40 bạt một chiếc, chắc tầm 1USD. Mình nghĩ hơi đắt, song rồi cũng mua một cái, bẻ đôi cho một bạn đi cùng, hai thằng ném vèo cái hết. Bạn kia ném xong thấy cá vẫn ăn, lại quay lại mua một cái khác chia cho mình. Nhìn đàn cá tranh nhau đớp mồi, mình thấy rất là thư thái, chả nghĩ gì đến việc mua cái bánh mì hơi đắt nữa.

Cho đến lần đi Thanh hóa, chừng 10 năm về sau.

Ấy là mình chạy xe trên đường Hồ Chí Minh, thấy có cái biển đề tham quan Suối cá thần ở huyện Cẩm Thủy. Nhân không bận lắm, bèn tạt khỏi quốc lộ, đi sâu vào chừng chục km. Vừa dừng xe ở bãi, bước ra ngoài đã thấy có vài bạn hàng rong bu lại. Cái này bình thường, song có 2 bạn bán bánh mì, bảo, anh mua cái bánh mì chốc vào trong kia cho cá ăn.

Mình nhớ lại vụ ở Bangkok, bèn rút tiền mua luôn 2 cái. Hình như 3-4 ngàn 1 cái, cũng không coi là đắt hay rẻ, lúc đó còn mua thêm mấy quả chuối, định nghỉ trưa ngồi ăn luôn. Tay xách túi bánh mì, tay xách hoa quả, đi lại tung tăng y như một khách du lịch chính hiệu.

Vào đến chỗ có cá thì hỡi ôi, có một cái biển to đùng cấm du khách cho cá ăn, và tóm lại là cấm ném bất kỳ vật gì xuống nước, dù là thức ăn thừa hay đồ rơi vãi. Mình cầm bánh mì trong tay, vẻ mặt chắc rất khó coi – nên một bạn đeo băng bảo vệ mới thẽ thọt ra bảo. Đề nghị anh đừng cho cá ăn, vì đàn cá ăn no là nó chui vào hang hết, chả có cái gì để xem. Chúng tôi ở đây phải canh ghê lắm, chứ hở ra là người ta thi nhau ném đồ ăn xuống.

Ừ thì đành là không ném nữa, nhưng cảm thấy hết sức bực bội, như thể mình bị tụi hàng rong nó lừa. Sao không ai làm cái biển "Cấm cho cá ăn" to như thế này, treo ở chỗ để xe, có phải là du khách đỡ bực mình không. Mấy cái đứa bán bánh mì, chắc là làng xã biết mặt biết tên cả, sao cứ để nó lừa bán cho người ta mãi thế. Dân quân Thanh hóa mà không dẹp nổi mấy cái lẻ tẻ này à – họ vốn giỏi nổi tiếng, từ thời bác Phùng Gia Lộc viết "Cái đêm hôm ấy …" kia mà.

Chưa bao giờ ăn bánh mì với chuối, hôm đó thấy hương vị không tệ chút nào! 

Monday, November 30, 2015

Nhà mạng di động biết gì về bạn?

Nếu bạn hiểu cách thức làm việc của điện thoại di động, bạn sẽ ngạc nhiên với lượng thông tin mà các nhà mạng nắm được về từng chủ thuê bao. Khi tập trung đủ thông tin từ các nguồn, họ có thể vẽ ra chân dung bạn ở mức chính xác mà bạn không ngờ tới.

Lấy cảm hứng từ bài báo của VNE http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/canh-sat-phap-dau-sung-vay-bat-nghi-pham-khung-bo-paris-3314102.html. Cảm ơn VCF_Meoww đã bổ sung thông tin.

Trích dẫn: "Một chiếc điện thoại di động được tìm thấy trong thùng rác ngoài nhà hát Bataclan dẫn cảnh sát đến căn phòng khách sạn ở Alfortvile, nơi Salah Abdeslam, nghi phạm khủng bố thứ 8, được cho là ở trong hai đêm trước vụ tấn công hôm 13/11. Căn phòng được thuê theo tên y và cảnh sát tìm thấy những xi lanh, ống khí, có thể được dùng để tạo chất nổ, Le Monde đưa tin."

Thông tin về bạn bị tiết lộ như thế nào? Ngay khi bật điện thoại lên, nó sẽ tìm cách thiết lập liên lạc với hãng cung cấp dịch vụ viễn thông, thông qua việc bắt sóng và gửi tín hiệu nhận dạng đến các cột sóng (trạm gốc) trong tầm làm việc. Thông tin quan trọng nhất được trao đổi ở giai đoạn này có số IMSI, là một số nhận diện ẩn trong thẻ SIM của bạn. Mỗi thẻ SIM thực tế có một số IMSI khác nhau, và nhà mạng căn cứ vào số IMSI để chuyển hướng cuộc gọi đến chỗ bạn, thông qua đối chiếu giữa số điện thoại và số IMSI.

Cột sóng dùng số IMSI này để kiểm tra xem điện thoại của bạn có dùng SIM của hãng sở hữu cột sóng hay không. Nếu số IMSI không thuộc về một trong số SIM của hãng, hoặc SIM của hãng nhận chuyển vùng (roaming), cột sẽ từ chối dịch vụ song vẫn giữ liên lạc với máy – và có thể cho phép bạn liên lạc đến số điện thoại khẩn cấp dạng "Emergency calls only". Bằng cách đó, cột sóng biết được IMSI của bạn khi bạn bật máy, nhận biết việc tắt máy và theo dấu bạn nếu ra khỏi vùng phủ sóng, kể cả khi nó không cùng mạng viễn thông với bạn.

Trong khu vực thành phố, các cột sóng bao phủ dày đặc khắp nơi. Căn cứ vào tín hiệu và tính toán theo phép tam giác đạc, nhà mạng có thể biết vị trí của bạn với sai số dưới 50m – thậm chí nhỏ hơn nếu dùng tín hiệu từ nhiều nhà mạng khác nhau. Theo thời gian, người ta dễ dàng vẽ ra lộ trình di chuyển của chủ nhân bất kỳ chiếc điện thoại nào. Trong vụ khủng bố ở Paris, chắc chắc cảnh sát đã căn cứ vào lộ trình này để khoanh vùng các khu vực khả nghi – nơi mà tín hiệu cho thấy điện thoại dừng lại lâu hơn các vị trí khác.

Khi so sánh số liệu từ nhiều nhà mạng, người ta có thể biết chắc chắn bạn dùng những số điện thoại nào, nếu như lộ trình của chúng trùng nhau. Bạn có thể mua một thẻ SIM rác không liên quan đến danh tính của bạn, và bạn nghĩ không ai biết được điều đó – trừ người bán hoặc người chuyển chiếc SIM cho bạn. Thực sự là bạn đã mắc sai lầm, nhà mạng chỉ cần so sánh lộ trình di chuyển của mọi SIM trong vòng 24h so với số điện thoại chính của bạn, là bạn sẽ bị lật tẩy ngay lập tức. Việc này cũng cho phép phát hiện ra nếu một người theo dõi người khác, khi lộ trình di chuyển của họ trùng nhau phần lớn thời gian trong ngày.

Các hãng điện thoại sử dụng thông tin này để bán quảng cáo. Ví dụ nếu bạn thường đi shopping ở Aeon Mall hai Co-op Mart vào dịp cuối tuần, công ty điện thoại có thể lựa chọn để gửi những tin nhắn liên quan mỗi khi bạn tới nơi: ví dụ các đợt khuyến mại, giảm giá hay tặng quà hấp dẫn. Nếu bạn thường qua lại chuyên khoa Tim mạch trong bệnh viện, nhà mạng có thể gửi thông tin về các loại thuốc và máy trợ tim đời mới nhất. Điều nguy hiểm là thông tin này bị tiết lộ không phụ thuộc vào chiếc điện thoại của bạn. Dù bạn xài iPhone đời chót hay Nokia cùi bắp, hệ điều hành tiên tiến nhất hay điện thoại cục gạch chỉ nghe gọi, bạn vẫn liên tục bị truy vết. Thử nghĩ xem nhà mạng có thể quảng cáo gì, nếu bạn tình cờ bị hỏng xe ở gần Đài hóa thân Hoàn vũ. Cá với các bạn, họ sẽ quảng cáo dịch vụ sửa xe và cứu hộ giao thông!

Trong series phim về điệp viên Jason Bourne, người ta đã thể hiện một cách thu hẹp diện tìm kiếm, dựa theo tín hiệu tắt máy. Quan sát cho thấy, hầu hết mọi người không tắt máy điện thoại hàng ngày. Khi nhận ra Bourne đến thành phố lạ để gặp một người chưa rõ tông tích, toán truy tìm đã kiểm tra xem có chiếc điện thoại nào tắt trong khoảng thời gian đó hay không. Kết quả chỉ có 3 chiếc tắt máy!

Tất nhiên đây là chuyện trên phim ảnh, song cảnh sát Pháp đã có thể sử dụng các biện pháp tương tự để phát hiện các nhóm bị tình nghi. Nếu như hơn một chục chiếc điện thoại cùng tắt máy ở cùng một vị trí địa lý, người ta có lý do để cho rằng mục đích tập hợp của họ là mờ ám và không rõ ràng.

Hãng điện thoại cũng có thể phân tích mô thức cuộc gọi để tìm ra chủ đích thực của số điện thoại mới, bằng cách so sánh với mô thức cuộc gọi từ một số đã biết. Mọi người thường không để ý rằng họ chỉ gọi và nhận cuộc gọi từ một vài số điện thoại chính: gia đình, bạn bè thân quen, sếp hoặc nhân viên trực tiếp. Với mỗi đối tượng, cuộc gọi thường phát sinh vào một khoảng thời gian cụ thể và có một thời lượng cụ thể. Các cuộc điện thoại công việc có xu hướng kéo dài và phát sinh trong giờ làm việc, trong khi người ta gọi cho người thân và bạn bè ngoài giờ làm, và cuộc gọi thường vắn tắt. Khi danh sách các cuộc gọi đến và gọi đi của 2 số điện thoại gần trùng nhau, mô thức cuộc gọi giống nhau, người ta có thể đặt giả thiết các số này thuộc về cùng một người.

Bằng cách này, cảnh sát Pháp chắc đã tìm lại lịch sử các số điện thoại được sử dụng bởi tay súng khủng bố, cho dù không sử dụng cùng lúc. Việc thu thập được chiếc điện thoại tại hiện trường còn cho phép cảnh sát lục lại các thông tin có sẵn trên máy, ví dụ lịch sử cuộc gọi, lịch sử tin nhắn, các hình ảnh do tay súng chụp từ trước đó, hoặc dữ liệu đệm (cached) của trình duyệt Web. Đây là những thông tin có giá trị, giúp rút ngắn thời gian tìm kiếm và khoanh vùng các nhân vật bị tình nghi.

Khó khăn nhất có lẽ là xác định chiếc điện thoại này thật sự thuộc về nghi can khủng bố hay không. Còn lại, với dữ liệu đầy đủ, một tay nhân viên công nghệ hạng xoàng cũng có thể phanh phui bằng hết – không cứ phải là người của Deuxième Bureau!

* Bài viết có tham khảo thông tin từ site ssd.eff.org.

Friday, November 27, 2015

Khi máy bay không người lái rớt khỏi bầu trời (phần 2)

Dịch từ bài báo When drones fall from the sky trên Washington Post
http://www.washingtonpost.com/sf/investigative/2014/06/20/when-drones-fall-from-the-sky/

* Phần 1
* Phần 3 (Hết) 

Tai nạn trải rộng toàn cầu.

Drone đã cách mạng hóa chiến tranh, và giờ đây chúng đang chuẩn bị cách mạng hóa ngành hàng không dân dụng. Theo luật do Quốc hội Hoa Kỳ thông qua, Cục Hàng không Liên bang dự kiến ban hành các quy định vào tháng 9/2015, cho phép drone hội nhập rộng rãi vào hàng không dân dụng. Nhu cầu sở hữu và sử dụng drone là rất lớn. Các cơ quan thực thi pháp luật, vốn đã có một số drone mang camera, dự kiến mua thêm hàng ngàn chiếc khác. Sở cảnh sát mong có drone để làm công cụ giám sát trên không, chi phí thấp và vận hành suốt ngày đêm.

Các doanh nghiệp thấy khả năng sinh lời từ drone để đánh giá mùa màng, vận tải hàng hóa, kiểm soát bất động sản hay quay phim ở Hollywood. Một số phóng viên đã xin cấp phép cho drone để đưa tin. Giám đốc điều hành Amazon.com, Jeffrey P. Bezos muốn công ty mình sử dụng drone tự hành để giao các kiện hàng nhỏ tới tay người nhận (Bezos cũng là chủ tờ Washington Post!).

Quân đội đang sở hữu khoảng 10,000 chiếc drone, từ loại Wasp (0.5kg) và Raven (2kg) cho tới Predator nặng 1 tấn và Global Hawk nặng 15 tấn. Đến năm 2017, họ có kế hoạch điều khiển drone từ ít nhất 110 căn cứ trên 30 tiểu bang, cộng với Guam và Puerto Rico. Ngành công nghiệp chế tạo drone đã vận động Quốc hội thông qua dự luật mới, cho rằng lợi ích kinh tế đạt 82 tỷ USD và 100,000 việc làm mới được tạo ra, từ giờ tới 2025.

Các phản đối của công chúng nhằm vào mối quan ngại về tự do dân sự, chẳng hạn các vấn đề về đạo đức và pháp lý khi sử dụng drone rình mò hàng xóm ở sân vườn của họ. Hiện nay chỉ có một lượng ít ỏi các hồ sơ an toàn của máy bay điều khiển từ xa. Một báo cáo tháng 5/2014 bởi Viện hàn lâm Khoa học kết luận rằng "những câu hỏi quan trọng chưa được trả lời" về khả năng tích hợp an toàn drone dân sự vào không phận quốc gia, gọi đó là một "thách thức quan trọng và xuyên suốt."

Không ai dày dạn kinh nghiệm với drone hơn quân đội Mỹ, họ có đến hơn 4 triệu giờ bay. Song Bộ Quốc phòng bảo vệ nghiêm ngặt các chi tiết về vận hành drone, bao gồm cả các chi tiết về tai nạn liên quan đến nó: bằng cách nào, xảy ra ở đâu, vào lúc nào …

Tòa soạn báo đã gửi hơn hai mươi yêu cầu cho Không quân, Lục quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến, dựa theo đạo luật về Tự do thông tin. Với các phản hồi nhát gừng ròng rã trong một năm, quân đội đưa ra các báo cáo điều tra và một số hồ sơ khác, tổng hợp lại cho thấy cả thảy 418 vụ tai nạn lớn liên quan đến drone trên toàn thế giới, trong khoảng thời gian từ tháng 9/2001 đến cuối 2013. Con số này tương đồng với số vụ tai nạn của các máy bay chiến đấu trong cùng thời kỳ, dù số giờ bay và số lần xuất kích của drone ít hơn rất nhiều – theo số liệu thống kê về an toàn của Không quân.

Quân đội phân loại tai nạn theo tổng thiệt hại của drone và tài sản liên quan trong một vụ việc. Tai nạn được phân loại cấp cao nhất – hạng A – khi mà drone bị hư hỏng hoàn toàn hoặc tổng thiệt hại lớn hơn 2 triệu USD. Tài liệu cho thấy 194 vụ rơi drone thuộc hạng này, một nửa trong số đó xảy ra tại Afghan và Iraq, một phần tư khác xảy ra trong nước Mỹ. Trong hầu hết các vụ việc, bên quân sự triệu tập hội đồng điều tra để xác định nguyên nhân. Có 18 trường hợp nhạy cảm đến mức họ không tiết lộ thậm chí tên quốc gia nơi xảy ra tai nạn, và chi tiết các diễn biến đã xảy ra trên thực tế.

Hai trăm hai mươi bốn vụ được phân loại hạng B, tức là thiệt hại từ 500 ngàn đến 2 triệu USD. Tòa báo không nhận được thông tin cụ thể về những vụ việc này, có lẽ do mức độ thiệt hại nhỏ nên người ta không tổ chức điều tra nguyên nhân.

Các hồ sơ quân sự cũng không cho biết về tai nạn liên quan đến drone được CIA vận hành. Hiện nay, cơ quan tình báo có khoảng 30 chiếc drone vũ trang loại Predator và Reaper đang hoạt động ở nước ngoài, với các phi công mượn từ quân đội. Họ cũng có ít nhất một chiếc drone giám sát tiên tiến loại RQ-170 Sentinel, mà quan chức CIA thừa nhận đã bị rớt ở Iran tháng 12/2011.

"Húc phải UAV!"

Khi quân đội liên tiếp phái các drone tới Iraq và Afghan vào giữa những năm 2000, một số chỉ huy Không quân đã nhìn thấy hiểm họa tiềm tàng trong một bầu trời đông đúc. Họ cho lưu hành một tài liệu trích dẫn lời của một vị tướng Không quân giấu tên nói rằng: "Tôi lo ngại về một ngày khi chiếc C-130 chở đầy lính bị drone đâm thẳng vào buồng lái".

Lo lắng của vị tướng là xác đáng. Ngày 15 tháng 8 năm 2011, chiếc C-130 Hercules tải trọng 70 tấn đang tiếp cận căn cứ tiền tiêu Sharana, phía đông Afghanistan. Đột nhiên, khi cách mặt đất chừng 400m, chiếc máy bay to lớn đụng độ với vật thể bay nặng 200kg.

"Chết tiệt!" Hoa tiêu chiếc C-130 hét lên, theo bản bóc băng từ máy ghi âm buồng lái "Chúng ta húc phải UAV! Húc phải UAV!"

Đó là một drone loại RQ-7B Shadow, do Lục quân điều khiển từ mặt đất, đâm vào cánh trái chiếc máy bay vận tải, ở khoảng giữa 2 động cơ. Nhiên liệu tràn ra ngoài theo một vết rách trên cánh. Tổ lái C-130 tắt một động cơ và yêu cầu giải phóng đường băng để hạ khẩn cấp. Trong khoảng 2 phút, máy bay tiếp đất với cánh trái đầy khói. "Cái lỗ to chưa kìa!" – phi công nhận xét, may thay không có ai bị thương.

Khoảng gần một phút sau, tổ lái drone – vẫn không ý thức được sự việc đang diễn ra – thông báo với đài không lưu rằng họ mất kiểm soát một chiếc máy bay điều khiển từ xa. "Chúng tôi có một chiếc C-130 đâm phải UAV," đài không lưu trả lời. "Tôi ngờ rằng đó là UAV của các anh."


 Máy bay điều khiển từ xa RQ-7B Shadow

Vụ va chạm đã nghiền nát chiếc drone. Các quan chức quân đội lúng túng như gà mắc tóc, vì nếu ủy ban điều tra kết luận tổ lái drone phải chịu trách nhiệm về vụ tai nạn, nó sẽ phá hoại toàn bộ kế hoạch sử dụng máy bay không người lái – không chỉ ở nước ngoài mà ngay cả trên nước Mỹ nữa. Họ không bao giờ công bố kết luận điều tra. Hai quan chức Lầu Năm góc cho biết trong một cuộc phỏng vấn, rằng nhóm điều khiển drone không có lỗi, nhưng họ không cung cấp thêm chi tiết.

Tòa soạn báo đã yêu cầu Không quân đưa ra hồ sơ về vụ việc này, dựa theo đạo luật Tự do thông tin. Không thể tìm thấy nguyên nhân chính thức của vụ tai nạn, song có thể thấy cá nhân điều khiển không lưu phải chịu một phần trách nhiệm. Anh ta là nhân viên của một nhà thầu dân sự, đã bị giáng cấp và đưa đi đào tạo khắc phục hậu quả. Các quan chức quân sự cho biết chỉ có một vụ va chạm trên không nữa, xảy ra ở Irad hơn một thập kỷ trước, giữa một chiếc trực thăng và drone loại cầm tay.

Song tai nạn trên mặt đất mới thực sự nhiều.

(Còn tiếp)

Khi máy bay không người lái rớt khỏi bầu trời (phần 3)


Khi máy bay không người lái rớt khỏi bầu trời (phần 3)
Dịch từ bài báo When drones fall from the sky trên Washington Post
http://www.washingtonpost.com/sf/investigative/2014/06/20/when-drones-fall-from-the-sky/


* Phần 1
* Phần 2 

"Cái quỷ gì thế này – đường băng đâu rồi?" Đại úy Không quân Matthew Scardaci hét lên khi động cơ của chiếc Predator bị hỏng và nó lao xuống căn cứ Kandahar vào ngày 5/5/2011. "Lạy Chúa, cái gì thế? Tôi vừa đâm vào cái gì thế."

Hóa ra chỉ là một dãy container rỗng. Không ai bị thương. Scardaci không trả lời yêu cầu bình luận của tòa báo, dù được yêu cầu thông qua phát ngôn viên của Không quân. Trong vòng 6 tháng, tại miền đông Afghan, 2 chiếc Predator mang tên lửa Hellfire đã gặp tai nạn, đâm xuống gần khu dân cư thành phố Jalalabad. Một trong số đó đã rơi vào khu nhà ở và gây cháy. Rất may không ai bị thương, nhưng quân đội phải bồi thường cho chủ nhà – tổng số tiền bồi thường không được tiết lộ.

"Ái chà!" và "Ối!"

Trong các trạm điều khiển mặt đất, phi công drone ngồi trên hàng đống các danh sách kiểm tra để hướng dẫn họ trong mọi tình huống có thể nghĩ ra. Song họ vẫn mắc những sai lầm rất đắt đỏ.

Một lỗi thường mắc phải: quên bật hệ thống ổn định của máy bay. Hệ thống này giúp các drone không bị chao đảo hoặc quay tròn. Trong ít nhất năm trường hợp tai nạn, phi công đã không bật hệ thống này hoặc tình cờ tắt nó đi, khiến họ bấn loạn khi drone cắm đầu xuống đất. Ngày 16/8/2010, cả phi công và người vận hành camera đều không chú ý đến đèn cảnh báo màu đỏ trên màn hình – chỉ ra rằng hệ thống ổn định đã bị tắt, khi cho chiếc Predator cất cánh từ căn cứ Balad. Drone sau đó đâm xuống mặt đất và tạo ra hố sâu đến gần 1m cạnh đường băng.

Một phi công thiếu kinh nghiệm khác đã lao drone của mình vào một ngọn núi cao gần 6000m ở Afghan, dù có cảnh báo về địa hình núi cao. Các cuộc điều tra sau đó cho thấy anh quá vội vàng chi viện cho bộ binh phía dưới, và bị xao lãng bởi đám mây dông lớn gần đó, không để ý thấy ngọn núi thấp thoáng trước mặt.


Chiếc Predator ở căn cứ Jalalabad, tháng 7/2012

Phàn nàn về độ tin cậy.

Chiếc Predator nguyên bản được thiết kế không có các bộ phận dự phòng như thường có trên các máy bay người lái. Nó chỉ có một động cơ, một máy phát điện, một cánh quạt. Nếu bất kỳ bộ phận nào trong số đó ngưng hoạt động, drone sẽ rơi. Kể từ khi bắt đầu chương trình drone, Không quân Mỹ đã mua cả thảy 269 chiếc Predator. Bốn mươi phần trăm con số đó đã tan tành trong các tình huống tai nạn loại A – loại nghiêm trọng nhất. Tám phần trăm khác – trong các tai nạn loại B.

Khi các vụ tai nạn chồng chất lên, Không quân bắt đầu phàn nàn về độ tin cậy của drone – một số nhằm thẳng vào nhà cung cấp, hãng General Atomics (GA). Song GA đã phản bác lại, cho rằng hầu hết các vụ tai nạn xảy ra do lỗi con người, và thường ở giai đoạn hạ cánh. Họ tuyên bố đã nâng cấp drone [nhằm mục đích an toàn] song việc lắp thêm một động cơ dự phòng là không khả thi, vì sẽ đòi hỏi thiết kế lại toàn bộ máy bay.

Mặt khác, dòng drone Predator này đã bị dừng sản xuất từ năm 2011 – người ta dự kiến thay thế chúng bằng dòng MQ-9 Reaper, loại có độ tin cậy cao hơn, bay nhanh gấp đôi và mang nhiều vũ khí hơn. Không quân Mỹ đã có kế hoạch dừng bay Predator vào năm 2018 và "không còn hứng thú cấp vốn cho các hoạt động nâng cấp" – theo GA cho biết.


 Ảnh chiếc MQ-9 Reaper

Không quân Mỹ thừa nhận drone Predator gặp tai nạn nhiều hơn so với máy bay quân sự thường, song họ tuyên bố đã cải thiện các chỉ số an toàn của chúng. Trong vòng hơn mười năm đầu tiên, Predator liên tục gặp nạn – cứ mỗi 100K giờ bay thì có 13.7 vụ tai nạn loại A. Sau này, kể từ năm 2009, tỷ lệ tai nạn đã giảm xuống 4.79 vụ. Chiếc Reaper tỏ ra xuất sắc vượt trội, khi chỉ có 3.17 vụ tai nạn cho mỗi 100K giờ bay. Tỷ lệ này đang tiệm cận đến mức của máy bay quân sự thông thường: chiếc F-16 là 1.96 vụ và F-15 là 1.47 vụ - theo Trung tâm An toàn Không quân ở căn cứ Kirtland cho biết.

Song chiếc Reaper cũng có những sai sót.

Sau vụ tai nạn trong lúc huấn luyện ở California tháng 3/2009, Không quân phát hiện ra chiếc van điều khiển theo nhiệt độ trong hệ thống dầu bị hỏng. Một vụ tương tự đã xảy ra vào tháng trước đó. Khi điều tra kỹ hơn, họ nhận ra rằng chiếc van bị lắp ngược. Bên Không quân đã rất ngạc nhiên khi nhận ra GA mua loại van từ một nhà cung cấp ở Houston, vốn không thiết kế nó để sử dụng trên máy bay.

Bên Lục quân chưa bao giờ đồng ý với Không quân, về việc drone cũng an toàn như máy bay thường. Trên thực tế, thống kê cho thấy tỷ lệ rủi ro của drone Lục quân cao gấp 10 lần!

Đó chưa phải điều tệ hại nhất. Nhiều chỉ huy đã không báo cáo các vụ rủi ro của drone – dù họ được yêu cầu phải làm việc này. Chừng 55% số drone MQ-5 Hunter đã "mất vì các lý do khác nhau": từ tai nạn huấn luyện cho đến tham gia chiến đấu. Lục quân còn sử dụng drone RQ-7 – chính là chiếc đã đâm phải máy bay vận tải C-130 nhắc đến ở phần trên. Tổng cộng, hơn 38% số máy bay của Lục quân đã gặp những tai nạn lớn.

Vào núi và xuống biển

Các báo cáo điều tra tai nạn cho thấy, trong các tình huống khẩn cấp, phi công điều khiển đã phải cầu viện đến những biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn một thảm họa.

Trong khoảng từ 2006 đến 2012, có 6 vụ phi công đã điều khiển drone lao vào vách núi, khi động cơ bắt đầu bị hỏng. Người ta cho rằng, thà đâm vào vách núi còn an toàn hơn là cố đưa drone hỏng về sân bay, nơi nó có thể rớt phải ai đó. Ở những vụ khác, drone đơn thuần biến mất và không thể tìm thấy.

Đêm 10/7/2011 trời trong, gió nhẹ. Tổ lái đang điều khiển một chiếc Predator vũ trang ở độ cao hơn 5km, phía đông Afghanistan. Đột nhiên tín hiệu bị cắt. Đường truyền vệ tinh không khôi phục được. Sau hàng giờ tìm kiếm, cả từ radar và từ các máy bay trong khu vực, họ kết luận drone đã mất tích. Các drone lớn có bộ phát tín hiệu giúp định vị liên tục. Song khi đã mất nguồn điện chính, cần có bình ắc quy để duy trì hoạt động của bộ phát này. Rủi thay, hầu hết các drone đều không mang theo ắc quy, vì chúng quá nặng!

Đó cũng là số phận của một chiếc Predator vũ trang, mất tích 20 phút sau khi cất cánh từ căn cứ không quân Kandahar ngày 20/11/2009. Năm tuần sau, người ta tìm thấy các mảnh vụn của nó, cách xa 10km. Cuộc điều tra kết luận drone bị hỏng hệ thống điện, do chập mạch ở cáp nguồn. Người ta ngờ rằng sét đánh, gió mạnh và đóng băng trên cánh cũng có thể hạ gục drone một cách dễ dàng. Ít nhất, tổ lái Hải quân đã nhận thấy băng đóng dày đến 50cm trên một chiếc drone loại MQ-8B dạng trực thăng, khi tìm cách hạ nó xuống boong tàu hộ tống tên lửa USS Robert G. Bradley ngoài khơi Syria. May thay tảng băng đã rơi xuống biển, không gây thiệt hại gì cho drone và tàu.

Mất liên lạc vẫn là vấn đề khó khắc phục. Khi còn ở trong tầm nhìn, drone liên lạc với tổ lái bằng kết nối trực tiếp. Khi ra khỏi tầm, nó tự thiết lập liên lạc vệ tinh để nhận điều khiển. Trong mọi tình huống mất liên lạc, nó sẽ tự động bay vòng và chờ cho đến khi nhận được tín hiệu. Trong tình huống xấu nhất, nó được lập trình để tự quay về căn cứ.

Song đó chỉ là trên lý thuyết. Trong hơn một phần tư số vụ tai nạn được Tòa soạn báo [Washington Post] nghiên cứu, liên lạc đã gián đoạn xung quanh thời điểm xảy ra. Thường các phi công không mấy lo lắng khi mất tín hiệu, song nếu mất đến 3 hoặc 5 phút thì phải tìm hiểu nguyên do. Đã có hai chiếc Predator gặp tai nạn liên tiếp trong vòng một tháng tại Afghanistan – khi mọi nguyên nhân thời tiết đều bị loại trừ, sau khi tổ lái không thể thiết lập lại liên lạc với drone. Các liên lạc vệ tinh tỏ ra kém tin cậy, drone có thể bị mất liên lạc nếu lượn quá gấp, hoặc bổ nhào quá nhanh.

Sự cố nguồn điện mặt đất lại là một lý do khác. Ngày 21/7/2008, hỗn loạn xảy ra ở một căn cứ không quân khi các tổ lái đang điểu khiển đồng thời 3 chiếc Predator trên vùng trời Afghanistan. Điện bị cắt đột ngột, toàn bộ các màn hình và bàn điều khiển tối thui. Sau vài phút, khi có điện lại, các phi công đã liên lạc được với 2 chiếc Predator – lúc đó đang bay vòng theo chế độ chờ được lập trình trước.

Người ta không bao giờ tìm thấy chiếc thứ ba.

(Hết)