Wednesday, June 10, 2015

Tìm hiểu về tàu ngầm Kilo (phần 2)

Tìm hiểu về tàu ngầm Kilo (phần 1)


* * *

Trong khi người Nga đẩy mạnh việc thương mại hóa lớp Kilo cho các đối tác truyền thống, thì ngay bên cạnh họ, người Đức cũng âm thầm phát triển một lớp tàu mà về sau cùng với Kilo trở thành hai dạng tàu ngầm bán chạy nhất trên thế giới, đó là Type 209.

Không giống như Liên Xô, Đức nhằm vào việc chế tạo ra một tàu ngầm thương mại thuần túy – bằng chứng là Hải quân Đức không hề biên chế lớp tàu này – tính năng kỹ thuật vừa phải, tùy chọn cung cấp thiết kế cho bên mua để cùng sản xuất. Với mô hình bán kèm thiết kế, nhiều nước đă nắm được một phần công nghệ đóng tàu ngầm, thậm chí họ còn nhận được chứng chỉ của Đức cho những mẫu tàu tự đóng theo thiết kế có sẵn. Mặc dù giá cả có vẻ cao hơn chút ít so với Kilo, Type 209 vẫn được đặt mua nhiều hơn. Tính đến nay (2015) Đức và các quốc gia khác đă “đồng sản xuất” gần 70 chiếc Type 209 mang cờ của 13 nước, trong khi Kilo có khoảng hơn 60 chiếc, mang cờ 8 nước kể cả Nga. Về mặt thương mại mà nói, Type 209 thành công vượt xa Kilo!

So trên các thông số kỹ thuật cơ bản, Type 209 nhìn chung tương đồng với Kilo. Hai tàu cùng loại động cơ diesel-điện truyền thống, về vũ khí cùng mang được tên lửa chống tàu, cùng tầm hoạt động 400 dặm. Vũ khí của Type 209 có 8 ống phóng lôi và 14 đạn trên bệ, tổng cộng cơ số đạn (cả ngư lôi và tên lửa) lên tới 22 quả. Còn Kilo chỉ có 6 đạn trong ống phóng và 12 đạn trên bệ, tổng cộng 18 quả các loại.

Tuy hạn chế về số lượng đạn trên tàu, song các tên lửa của Kilo có uy lực áp đảo so với Type 209. Ngoài ngư lôi, 209 chỉ có thể mang tên lửa Harpoon chống tàu chiến cổ điển phiên bản cận âm (0.8M), trong khi Kilo mang Klub-S với nhiều phiên bản khác nhau, loại thường nhất trong số đó tương đương Harpoon về tốc độ song độ cao hành trình chỉ bằng một phần ba đến một nửa so với Harpoon. Các loại hiện đại hơn trong khả năng của Kilo bao gồm tên lửa chống tàu tăng tốc siêu thanh và tên lửa đối đất để tấn công mục tiêu trên bờ. Phiên bản Kilo 636.3 của Hải quân Nga thậm chí trang bị cả tên lửa đối không, nhằm giúp phòng thủ tàu trước các đe dọa của không quân đối phương.

Một nguồn thông tin chưa được kiểm chứng cho rằng Việt nam đă mua tổng cộng hơn 50 tên lửa Klub-S bản tăng tốc siêu thanh. Loại tên lửa này mang đầu đạn nặng khoảng 200kg, bay ở tốc độ cận âm sau khi phóng khỏi tàu. Khi tới cách mục tiêu chừng 20km, tên lửa tách bỏ tầng thứ nhất và khởi động động cơ đẩy thứ hai. Khi đó, tốc độ của nó tăng đột ngột lên mức siêu thanh (2.8-2.9M) khiến cho thời gian đụng độ mục tiêu chỉ  khoảng 15-20 giây. Kể cả phát hiện kịp, các hệ thống phòng thủ cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định chính xác vị trí và tốc độ của tên lửa để đánh chặn. Ưu thế của Klub-S so với Harpoon, ngoài tốc độ hơn gấp 3 lần còn phải kể đến độ cao hành trình. Trong khi Harpoon bay bằng trên mặt biển ở độ cao 20-30m th́ì Klub-S chỉ bay cao 5-10m,tức là thấp hơn một nửa, buộc radar đối phương phải tăng hết công suất, “phơi mình ra” mới có thể rà quét nổi.

Về tốc độ tiết kiệm, Type 209 đi được 4 dặm mỗi giờ so với 3 dặm của Kilo. Để làm hết hành trình 400 dặm đi ngầm, tàu Đức cần 100h còn tàu Nga đi mất 133 giờ, chậm hơn gần một ngày rưỡi. Tùy theo phiên bản mà thủy thủ đoàn tàu 209 dao động từ 31 đến 36 người, ít hơn đáng kể so với 52-55 người của Kilo. Với lượng thủy thủ như vậy, tàu 209 có thể duy trì hành trình đến 50 ngày liên tục, cao hơn 9% so với 45 ngày của tàu Kilo. Về độ sâu, tàu 209 hoạt động b́nh thường ở mức 400m trong khi Kilo chỉ có 240m và tối đa đến 300m.

Tốc độ tối đa của cả hai tàu xấp xỉ như nhau, 21-22 dặm. Với tốc độ này, tàu Kilo có thể đi được khoảng 30 phút trên đoạn đường chừng 10 dặm là hết năng lượng. Bên Đức không công bố con số này, nên hiện không rõ tàu Đức có thể di chuyển bao xa ở tốc độ tối đa, song xét công suất động cơ của 209 nhỏ hơn một chút (5000hp so với 5500hp), lượng choán nước của 209 nhỏ hơn đáng kể so với Kilo (1.8Kt so với 3Kt), thì có thể dự đoán tàu Đức đi được xa hơn, có thể lên tới một vài giờ (cỡ 20-50 dặm).

Đánh giá chung, Kilo mạnh hơn 209 về vũ khí nhưng yếu hơn về tính năng vận hành. Nếu phải đối đầu một chọi một, bất lợi rõ ràng nghiêng về phía tàu của Nga, họ không thể rượt đuổi tàu Đức trong khi tàu Đức dễ dàng làm điều ngược lại. Bên cạnh đó, Đức còn có thể nâng cấp các tàu 209 vốn đang chạy diesel-điện sang chạy động cơ AIP dùng pin nhiên liệu (fuel-cell), bằng cách đó nâng cao đáng kể hành trình đi ngầm. Một số ước tính cho rằng, nếu chuyển đổi sang fuel-cell, một tàu Type 209 có thể hoạt động ngầm đến 84 ngày. Chỉ với riêng tính năng này, 209 thừa sức giám sát luồng lạch của Kilo, theo dấu chúng từ khi ra khơi đến khi về cảng.

Dưới màn đêm của độ sâu vài trăm m nước, việc ḍò tìm và theo dấu chủ yếu dựa vào thủy âm, do tiếng ồn của các tàu ngầm gây ra bị truyền đi rất xa. Khi chơi trò “bịt mắt bắt dê”, các tàu Mỹ gặp phải một bất lợi: chúng luôn phát ra một đỉnh tiếng ồn đặc trưng ở tần số 60Hz. 

Câu hỏi là, tại sao các tàu của Nga /Liên Xô và châu Âu không phát ra tiếng ồn ở tấn số này?

(Còn tiếp)

No comments:

Post a Comment